thành tựu của thiên văn học
Lịch tựu trường, lịch khai giảng năm học 2022-2023 của 63 tỉnh thành. 1. Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian tựu trường: Thứ 2, ngày 22/8/2022. Riêng cấp học mầm non: Thứ 4, ngày 31/8/2022. Ngày khai giảng năm học mới 2022-2023 vào 5/9/2022.
Những thành tựu của Sóc Trăng sau một nhiệm kỳ. 14/10/2020 | 09:31. Khánh thành và đưa vào sử dụng Bệnh viện chuyên khoa Sản - Nhi gần 800 tỉ đồng chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng. Trong nhiệm kỳ qua (2015 - 2020), các ngành, các cấp trong tỉnh Sóc Trăng đã quán
Bà là nhà vật lý học, nhà hóa học Pháp gốc Ba Lan. Bà nổi tiếng toàn thế giới về việc nghiên cứu chất phóng xạ. Bà là người phụ nữ đầu tiên và duy nhất trên thế giới hai lần được nhận giải thưởng Nobel. Đặc biệt hơn khi 2 giải Nobel đó trong hai lĩnh vực khác nhau. Đó là lý do bà được suy tôn là nữ bác học xuất sắc nhất trên toàn thế giới.
3 bước để thành tựu phát tâm Bồ đề Văn phát Bồ đề tâm nguyện ghi rõ, muốn được thành Phật thì "không có con đường nào khác hơn là chúng con phải phát Bồ đề tâm kiên cố, lập các hạnh nguyện sâu dày.
Bằng công nghệ sinh học con người đang khám phá những bí ẩn sâu xa nhất của sự sống ở cấp tế bào hoặc dưới cấp tế bào. Với những thành tựu trong nông nghiệp cách mạng xanh, công nghệ sinh học cũng sẽ dẫn tới những kết quả quan trọng trong sự cân bằng lương
Sie Sucht Ihn Der Neue Tag. Nhà thiên văn, họa phẩm của Johannes Vermeer, hiện vật bảo tàng Louvre, Paris Thiên văn học là một trong những môn khoa học ra đời sớm nhất trong lịch sử loài người. Những dấu vết khởi đầu của ngành thiên văn có từ thời tiền sử. Qua quan sát chuyển động biểu kiến của Mặt Trời, Mặt Trăng, con người đã tìm ra những thời điểm thay đổi của thời tiết. Vào cuối thời đại đồ đá thiên niên kỷ 4 - 3 TCN, ở những nền văn minh cổ đại, quan sát bầu trời là công việc rất quan trọng của giới tăng lữ. Trước khi con người học được cách định vị trên Trái Đất và sáng tạo ra môn địa lý học, họ đã quan sát bầu trời và sản sinh ra những mô hình đầu tiên của nó. Thời điểm thiên văn học trở thành một môn khoa học theo cách nhìn nhận ngày nay đã diễn ra vào thế kỉ 16 nhờ công sức của Nicolaus Copernicus, kế tiếp là Galileo Galilei, Johannes Kepler, Isaac Newton. Một trong những tác nhân quan trọng nhất đối với cuộc cách mạng thiên văn học của Nicolaus Copernicus là phát minh kính viễn vọng. Những bước tiến của thiên văn học hiện đại đã xảy ra vào nửa cuối thế kỷ 19 khi các phương pháp phổ học và chụp hình được sử dụng trong quan sát thiên văn. Những bước nhảy vọt của thiên văn học được ghi nhận vào những năm 40 của thế kỷ 20 nhờ các quan sát thiên văn vô tuyến và tiếp đó là sự kiện con người khắc phục được những cản trở của khí quyển Trái Đất khi quan sát toàn vẹn phổ của vũ trụ từ các vệ tinh nhân tạo. Thiên văn Ai cập[sửa] Khoảng năm trước Công Nguyên, tại thung lũng sông Nil, một trong những nền văn minh lâu đời nhất đã xuất hiện nền văn minh Ai cập cùng với ngành thiên văn học gắn chặt với con sông hùng vĩ này. Các vị tư tế nhanh chóng nhận thấy trước khi nước sông dâng cao luôn có hai sự kiện xảy ra ngày hạ chí và sao Thiên Lang mọc vào lúc bình minh sau 70 ngày vắng mặt. Lúc đó, người Ai Cập cũng đã có âm lịch với 12 tháng, mỗi tháng 29 đến 30 ngày và cứ sau hai đến ba năm, họ lại cộng thêm vào một tháng để luôn phù hợp với các mùa trong năm. Lịch Ai Cập cổ đại lấy ngày bắt đầu của năm là ngày đầu của tuần trăng non sau khi sao Thiên Lang mọc trở lại. Ngoài lịch có tính chất tôn giáo này, người Ai Cập còn có Lịch lược đồ, cũng có 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày và cuối năm thêm năm ngày nữa. Bầu trời được chia thành 45 chòm sao và con người đã biết đến các hành tinh như Sao Mộc, sao Hoả, Sao Thổ, Sao Kim, sao Thuỷ. Quan niệm của người Ai Cập về vũ trụ gắn liền với đa thần giáo. Trung tâm của thế giới là thần Geb, vị thần tượng trưng cho Trái Đất, người chị đồng thời là vợ của Geb - thần Nut chính là bầu trời. Nut sinh ra thần Ra - thần Mặt Trời và các vì sao còn Ra sinh ra Thoth - thần Mặt Trăng. Do Nut cứ sáng ra lại nuốt hết các vì tinh tú rồi đến đêm mới thả ra nên thần Shu, cha của bà, đã nâng bầu trời lên khỏi mặt đất. Thần Ra ban ngày bơi trên sông Nil ở thượng giới, chiếu sáng mặt đất còn ban đêm lại du hành dưới sông Nil chốn âm phủ và chiến đấu với những thế lực đen tối để rồi sáng hôm sau lại xuất hiện phía chân trời. Về dụng cụ thiên văn, người Ai Cập đã sáng chế ra đồng hồ Mặt Trời, đó chính là những cột bia thờ thần Ra, nó cho phép xác định độ cao của Mặt Trời so với đường chân trời. Để đo thời gian về ban đêm, các vị tư tế theo dõi vị trí của những ngôi sao. Người Ai Cập cũng đã cống hiến cho nhân loại ý tưởng xác định một giờ bằng 1/24 độ dài của một ngày đêm, thống nhất cho mọi mùa trong năm. Thiên văn Lưỡng hà[sửa] Vùng Lưỡng Hà là nơi cư trú của người Sumer, Assyrie và Babylon. Các thành tựu thiên văn học của người Babylone "đã trở thành tài sản chung cho các nhà bác học Hy Lạp và đóng vai trò quan trọng trong lịch sử ngành khoa học này. Lý thuyết về Mặt Trăng của Hipparchus chẳng hạn, phần lớn là lấy cơ sở từ các dữ liệu của các nhà bác học Babylone, hệ thống các chòm sao thời cổ Hy Lạp có rất nhiều chòm lấy từ các chòm sao đã biết ở vùng Lưỡng Hà. Và ngày nay, chúng ta vẫn tiếp tục chia thiên cầu thành 360° như các nhà thiên văn cổ đại vùng Lưỡng Hà đã làm. Vào thời kỳ thành phố Babylone bị người Kassite xâm chiếm, bộ sách chiêm tinh Enuma Anu Enlil đã ra đời với gần lời tiên đoán. Thời kỳ Cổ Babylone, thiên văn học đã có những thành tựu quan trọng. Đầu thiên niên kỷ 2 TCN, người Babylone đã nhận biết được 5 hành tinh của Hệ Mặt Trời là Sao Kim, Sao Thuỷ, Sao Hoả, Sao Thổ và Sao Mộc cũng như đường đi của chúng. Họ cũng phân biệt 12 chòm sao trên hoàng đạo, nghiên cứu về sao chổi, sao băng, tính được nhật thực, nguyệt thực và đặt ra âm lịch. Tới cuối thiên niên kỷ 2 TCN, các vì sao được phân chia vào khoảng 70 chòm sao, trong đó có một số chòm trùng với các chòm sao ngày nay như Song Tử, Con Cua, Sư Tử, Bọ Cạp... Ngay từ đầu thiên niên ký thứ 3 TCN, người Sumer đã biết sao Hôm và sao Mai chỉ là một và đến cuối thiên niên kỷ đó, theo một văn bản ghi trên đất sét tìm được, họ đã có được danh sách các chòm sao cũng như việc phân biệt giữa hành tinh với định tinh. Trong thời kỳ của vương quốc Assyrie, bộ sách có niên đại vào khoảng năm 1100 TCN đã liệt kê danh mục các chòm sao, các sao, ngày tháng chúng mọc lên, 18 chòm sao nằm trên đường đi của Mặt Trăng tiền thân của các cung hoàng đạo. Ngoài ra nó còn ghi lại lịch Mặt Trời và bằng xác định thời gian ban ngày theo cách đo đội dài bóng cọc tiêu. Dưới triều đại các vị vua Assyrie cuối cùng, chiêm tinh học và thiên văn học được liệt vào những công việc quan trọng của vương quốc, một mạng lưới các đền thờ đồng thời là đài quan sát thiên văn hình thành, kết quả quan sát được báo cáo đều đặn cho quốc vương. Từ giữa thế kỷ 8 TCN, nhật thực, nguyệt thực được ghi lại trong danh sách đặc biệt và nhật ký quan sát thiên văn được lập ra. Ngoài thiên thực, những ngày trăng non, trăng tròn, vị trí của Mặt Trăng so với các vì sao, sự dịch chuyển của các hành tinh, sự xuất hiện của sao chổi, ngày phân, ngày chí... cũng được ghi chép cẩn thận. Sang thời kỳ Tân Babylone, với sự phát triển của toán học, chuyển động của Mặt Trăng và các hành tinh được tính toán với độ chính xác cao hơn. Đóng góp nổi bật của giai đoạn này là sự phát triển khái niệm hoàng đạo vòng tròn lớn của hoàng đới được chia thành 12 phần bằng nhau, mỗi phần tương ứng với một chòm sao và gọi là cung hoàng đạo. Đó cũng là thang chia độ để xác định vị trí của Mặt Trăng, Mặt Trời, các hành tinh. Cũng vào thời kỳ này, người Lưỡng Hà sử dụng lịch Mặt Trăng và Mặt Trời kết hợp, mỗi tháng có 29 đến 30 ngày và bắt đầu vào buổi tối khi lưỡi liềm của trăng non xuất hiện. Năm bắt đầu từ mùa xuân và gồm 12 hoặc 13 tháng Mặt Trăng. Các tháng phụ được cộng thêm vào sao cho ngày đầu tiên của năm trùng với kỳ lúa đại mạch chín, cứ một chu kỳ 19 năm, bảy tháng phụ lại được thêm vào. Người Babylone cũng tìm ra chu kỳ Saros - chu kỳ 18 năm của nguyệt thực để có thể dự báo nó và Seleucus thành Seleucia, người ủng hộ thuyết nhật tâm. Thiên văn Hy lạp La mã[sửa] Kế thừa những thành tựu của thiên văn học Lưỡng Hà, người Hy Lạp cổ đại đã có bước phát triển quan trọng trong lý thuyết và phương pháp tính toán để đưa thiên văn học tiến một bước dài. Những gì mà họ tạo ra sau này đã được người Ả Rập và châu Âu tiếp tục sử dụng. Vào buổi sơ khai, người Ai Cập cổ đại quan niệm vũ trụ được mặt đất chia thành hai phần, phần trên là bầu trời sáng láng còn phía dưới là địa ngục tối tăm. Ban ngày Thần Mặt trời cưỡi cỗ xe rực lửa chạy khắp bầu trời và ban đêm bơi trên một cái chén vàng theo đại dương bao quanh mặt đất. Sử dụng thành tựu của những người đi trước, Ptolemy khoảng 100 - khoảng 178 đã tiếp tục xây dựng, phát triển lý thuyết về chuyển động biểu kiến của hành tinh. Ông đã sáng chế ra những dụng cụ đo góc để quan sát các vì sao như thước xích cầu, thước ngắm tam giác... và bổ sung vào danh mục các vì sao của Hipparchus đưa tổng số lên đến 1022. Mô hình vũ trụ của ông lấy Trái Đất làm trung tâm, các thiên thể chuyển động quanh đó. Các hành tinh không quanh quanh Trái Đất mà chuyển động đều trên các vòng tròn phụ gọi là ngoại luân và tâm của các ngoại luân mới mới chuyển động đều quanh Trái Đất theo vòng tròn lớn gọi là bản luân. Mô hình của Ptolemy đã được chấp nhận rộng rãi cho đến tận thời Phục Hưng khi Nicolaus Copernicus khẳng định Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời. Ngoài các công trình nghiên cứu thiên văn được tập hợp thành bộ sách đồ sộ Almagest, ông còn để lại những chỉ dẫn về chiêm tinh học trong tác phẩm Tetrabiblos. Hipparchus khoảng 190 TCN - khoảng 120 TCN cũng có những đóng góp quan trọng. Ngoài việc xác định hoàng vĩ và hoàng kinh kinh độ và vĩ độ theo hệ tọa độ hoàng đạo của 850 ngôi sao, ông đã đưa ra ý niệm về cấp sao biểu kiến. Ông cũng là người khám phá ra hiện tượng tuế sai trong chuyển động của các hành tinh, tính toán độ dài của một năm, khoảng cách từ Trái Đất tới Mặt Trăng với độ chính xác cao. Dùng phương pháp đo góc, Eratosthenes 276 TCN - 194 TCN đã tính toán được đường kính Trái Đất. Mặc dù độ chính xác của con số này là chủ đề tranh luận của các học giả nhưng chắc chắn rằng nó ở mức cao, thậm chí tuyệt vời. Mô hình vũ trụ của Ptolemy. Aristotle 384 TCN - 322 TCN cũng cho rằng chuyển động hướng tâm và ly tâm là chuyển động tự nhiên còn những chuyển động khác phải có lực tác động vào. Sở dĩ các thiên thể chuyển động được là do "sức đẩy nguyên thủy" có tính chất thần thánh, nằm ngoài không gian và thời gian. Lý thuyết về vũ trụ của ông có ảnh hưởng sâu sắc đến các học giả thời Trung Cổ và họ đã điều chỉnh nó cho phù hợp với giáo lý Ki - tô. Được hậu thuẫn bởi giới chức tôn giáo, mô hình của Aristotle đã tồn tại nhiều thế kỷ, và thật không may mắn, điều này đã kìm hãm sự phát triển của khoa học bởi lẽ rất ít người dám thách thức quyền lực của nhà thờ. Sau khi La Mã xâm chiếm Hy Lạp, các nhà thiên văn học người Hy Lạp vẫn tiếp tục hành trình khám phá của mình. Ngoài việc dùng phương pháp đo góc để tính toán khoảng cách tương đối từ Trái Đất đến Mặt Trăng và Mặt Trời, Aristarchus 310 TCN - khoảng 230 TCN còn là người đầu tiên trình bày một cách rõ ràng và có hệ thống về thuyết nhật tâm. Theo đó, Mặt Trăng quay quanh Trái Đất, Trái Đất quay quanh trục của nó và các hành tinh quay quanh Mặt Trời. Nhà triết học Plato s. khoảng 428 TCN- 423 TCN; mất khoảng 348 TCN- 347 TCN trong tác phẩm Triết học tự nhiên Timaeus của mình đã cho rằng vũ trụ là do Đấng Sáng Tạo tạo ra bởi một hỗn hợp gồm hai bản thể bản thể tinh thần không thể phân chia và bản thể vật chất có thể phân chia. Vũ trụ phân thành 7 vòng với khoảng cách không đều nhau có tâm là Trái Đất. Khoảng cách tương đối từ Trái Đất đến quỹ đạo của các thiên thể theo tỷ lệ gấp đôi hoặc gấp ba, tỷ lệ mà theo ông các vòm cầu của vũ trụ đạt được sự hài hòa. Nhà triết học Philolaus 470 TCN – mất? coi Trái Đất là một trong những ngôi sao và chuyển động vòng tròn quanh một tâm điểm gây ra ngày và đêm. Vũ trụ của ông quay xung quanh một "ngọn lửa thần thánh" và gồm có bầu trời, các hành tinh, sau chúng là Mặt Trời, dưới Mặt Trời là Mặt Trăng, dưới Mặt Trăng là Trái Đất và Đối Trái Đất Antichtone giả thuyết nằm ẩn mặt phía sau ngọn lửa thần thánh. Philolaus cho rằng, Trái Đất quay quanh trục của mình. Đến thế kỷ 4 TCN, nền khoa học nói chung và thiên văn học nói riêng của Hy Lạp đã đạt đến trình độ chuyển từ suy luận chung sang nghiên cứu một cách cụ thể và có hệ thống các hiện tượng tự nhiên. Eudoxus khoảng 408 TCN - khoảng 347 TCN, người cùng thời với Plato đã có những đóng góp tiêu biểu cho khuynh hướng này. Ngoài việc vẽ được hình chiếu của chí tuyến trời và vòng Cực Bắc lên bề mặt Trái Đất cũng như đưa ra tỷ lệ giữa khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trăng và Mặt Trời, ông đã xây dựng giả thuyết về chuyển động của các hành tinh, còn gọi là giả thuyết về các hình cầu đồng tâm. Đây là mô hình có tính chất hình học đầu tiên về chuyển động của các hành tinh. Lý thuyết của ông cho rằng chuyển động biểu kiến của các hành tinh là tổng của các chuyển động xoay tròn đồng mức. Chuyển động của mỗi hành tinh là một tổ hợp của một số vòm cầu lồng vào nhau, các cực của mỗi vòm được xếp liên tiếp chồng lên nhau. Để mô tả chuyển động của Mặt Trăng, Mặt Trời, cần 3 vòm cầu, cái thứ nhất mô tả chuyển động quay quanh trục của nó; cái thứ hai mô tả các tiết điểm giao điểm của hoàng đạo và đường đi của Mặt Trăng trên hoàng đới; cái thứ ba có trục hơi nghiêng so với các cực của vòm cầu thứ hai mô tả độ lệch góc của quỹ đạo so với mặt phẳng hoàng đạo. Các hành tinh có chuyển động biểu kiến phức tạp hơn thì cần tới 4 vòm cầu và hệ thống của ông có tổng cộng 27 vòm cầu. Sau đó Callippus khoảng 370 TCN - khoảng 300 TCN đưa thêm vào 6 vòm cầu nữa thành 33 và Aristotle tăng số lượng của chúng lên 55. Nhà triết học Pythagoras khoảng 580 TCN – khoảng 500 TCN cũng cho rằng Trái Đất là một quả cầu nằm tại trung tâm vũ trụ và phát hiện ra rằng sao Hôm và sao Mai chỉ là một hành tinh. Sau đó Anaxagoras 500 TCN – 428 TCN đưa ra mô hình vũ trụ là một quả bóng hình cầu đang nở ra với Trái Đất là trung tâm. Ông cho rằng, Mặt Trời là một tảng đá nóng bỏng lớn hơn bán đảo Peloponnésos. Democritus khoảng 460 TCN – khoảng 370 TCN đưa ra ý niệm có vô số thế giới tồn tại trong vũ trụ vô cùng vô tận và được cấu thành bởi vô vàn các hạt nguyên tử. Vào thế kỷ 6 TCN, Thales khoảng 624 TCN – khoảng 546 TCN đã dự báo chính xác nhật thực xảy ra vào ngày 28 tháng 5 năm 585 TCN khi quan sát nhật thực lớn vào 18 tháng 5 năm 603 TCN, một tiến bộ quan trọng lúc đó. Ông chứng tỏ rằng các ngôi sao phát sáng nhờ ánh sáng của mình, trong khi Mặt Trăng được chiếu sáng nhờ ánh sáng Mặt Trời. Theo Thales, mặt đất là một chiếc ván phẳng bơi trên mặt nước. Học trò của ông - Anaximander khoảng 611 TCN – khoảng 546 TCN đã đưa ra một mô hình vũ trụ theo thuyết địa tâm đầu tiên trong lịch sử thiên văn học. Theo đó Trái Đất là trung tâm và bao quanh bởi ba vòng cầu lửa, vòng gần Trái Đất nhất có nhiều lỗ thủng nhỏ chính là những ngôi sao, vòng xa hơn có một lỗ thủng lớn - Mặt Trăng và vòng xa nhất có một lỗ thủng lớn nhất - Mặt Trời. Đó là một bước phát triển quan trọng bởi trước ông, những nghiên cứu thiên văn học chỉ dựa trên quan sát chứ không phải suy luận. Không những thế ông còn tìm cách giải thích nguồn gốc của vũ trụ cái không giới hạn Apeiron là khởi đầu của tồn tại; vũ trụ sinh ra, trưởng thành rồi chết đi và lại sinh ra theo vòng tuần hoàn. Thiên văn Trung quốc[sửa] Bản đồ sao Đôn Hoàng, thời nhà Đường, Trung Quốc. Quan niệm về vũ trụ của người Trung Quốc cổ đại chịu ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo. Vũ trụ buổi hồng hoang ở trạng thái mông lung, mờ mịt gọi là "thái cực" sau đó sinh ra "lưỡng nghi" âm và dương. "Lưỡng nghi" vừa tương khắc vừa kết hợp với nhau tạo thành năm khí chất chủ yếu ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Từ quan niệm "thiên địa hai tầng", tầng trên là trời - thế giới vô hình, tầng dưới là đất - thế giới hữu hình, đến thế kỷ 5, hình thành ba quan niệm về cấu trúc vũ trụ. Thuyết "cái thiên" hình dung bầu trời như một cái nắp hình bán cầu trùm lên mặt đất hình vuông. Thuyết "hồn thiên" thiên cầu mênh mông của Trương Hành 78 - 139 thì cho rằng vòm trời có khí ở trong và bao bọc Trái Đất, chân trời có nước còn Trái Đất nổi trên nước, trời có chín tầng khí với vận tốc và áp lực khác nhau, các vì sao được "cương phong" gió cứng nâng lên. Thuyết "tuyên dạ" đêm tối lan tràn, không trung vô tận lại coi bầu trời trống rỗng và vô cùng, vô cực; bảy tinh tú Mặt Trời, Mặt Trăng cùng năm hành tinh Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ chuyển động tự do. Các sự kiện thiên văn được ghi chép ở Trung Quốc từ rất sớm và khá cụ thể. Các hiện tượng nhật thực, nguyệt thực, sao mới xuất hiện đã được chép lại từ khoảng năm trước Công Nguyên vào đời nhà Thương. Cho đến nay, ghi chép sớm nhất về vết đen Mặt Trời là sách Ngọc Hải, được ghi nhận không lâu sau năm 165 TCN. Hán Thư cũng ghi lại hiện tượng này khi nó xuất hiện ngày 10 tháng 5 năm 28 TCN. Thậm chí, dựa vào những lời ghi trong Kinh Dịch, có tài liệu còn cho rằng người Trung Quốc đã quan sát được vết đen Mặt Trời từ năm 800 TCN. Ở châu Âu, mãi tới đầu thế kỷ 9 mới có ghi chép về vết đen Mặt Trời. Ghi chép sớm nhất về sao chổi Halley nhìn thấy năm 613 TCN cũng được ghi trong Kinh Xuân Thu. Người Trung Quốc cũng ghi lại tỉ mỉ các hiện tượng xuất hiện sao mới, sao siêu mới mà họ gọi là "sao khách", sao băng...Hậu Hán Sử nhắc đến sao khách nhìn thấy ngày 7 tháng 12 năm 185. Vào thế kỷ 11 TCN, người Trung Quốc chia bầu trời sao vào hệ thống "tam viên nhị thập bát tú" với 28 chòm sao dựa theo 28 vì sao ở gần hoàng đạo và ba nhóm sao Tử Vi, Thái Vi, Thiên Thị tam viên ở xung quanh chòm sao Bắc Đẩu gồm 7 sao hình cái gàu sòng thuộc chòm Gấu Lớn theo cách chia hiện nay và thiên cực bắc. Danh mục sao cổ nhất của họ do Thạch Thân đời Chiến Quốc soạn có 122 chòm sao với 809 ngôi sao. Trương Hành thời Đông Hán đã sáng chế ra dụng cụ định vị sao gọi là hỗn thiên nghi và thống kê khoảng sao nhìn thấy được ở Trung Quốc, chia thành 124 chòm với 320 sao được đặt tên. Đến thời Tam Quốc, Trần Trác đã lập bản đồ và danh mục sao gồm 283 chòm tinh quan, sao. Kết quả quan sát quy mô lớn của Đài Quan Tượng xây dựng năm 1442 ở Bắc Kinh đã thiết lập nên hai danh mục sao đồ sộ là "Nghi tượng khảo thành" liệt kê vị trí của ngôi sao và "Nghi tượng khảo thành tục biên" với vị trí của ngôi sao. Hiện tượng tuế sai cũng được Ngu Hỷ phát hiện vào thế kỷ 4 và ghi lại trong sách "An thiên luận". Người Trung Quốc cũng có nhiều phát minh về dụng cụ thiên văn như cọc tiêu Mặt Trời, la bàn, đồng hồ mặt trời, đồng hồ nước... Khoảng năm 1100 TCN, Chu Công đã quan sát và đo bóng Mặt Trời lúc giữa trưa để xác định độ nghiêng của hoàng đạo so với xích đạo. Tuy nhiên, những thành tựu quan trọng nhất của thiên văn học Trung Quốc thể hiện ở lĩnh vực soạn lịch. Theo truyền thuyết và dã sử thì người Trung Quốc đã có lịch cách đây từ đến năm. Từ khoảng 600 năm trước Công Nguyên, họ đã có lịch âm dương kết hợp để phục vụ sản xuất nông nghiệp nên còn gọi là nông lịch. Cùng với Ai Cập, Trung Quốc là nơi sử dụng âm dương lịch sớm nhất. Tháng âm lịch tuần trăng bắt đầu từ ngày trăng non và có 29,5 ngày và cứ hai năm lại thêm một tháng nhuận cho phù hợp với năm dương lịch 365,25 ngày. Chu kỳ 19 năm một chương có bảy tháng nhuận ở các năm thứ 3,6, 8 hoặc 9, 11, 14, 17 và 19. Những ngày khí được đưa vào để thuận lợi cho thời vụ nông nghiệp. Cùng với tiến bộ về thiên văn học, toán học, lịch Trung Quốc thường xuyên được cải tiến với những nhà soạn lịch nổi tiếng Lưu Hồng, Hạ Thửa Thiên, Tổ Xung Chi, Lưu Chước, Quách Thủ Kính... Vào triều đại nhà Tần, Trung Quốc cũng đã có dương lịch với tháng tiết khí trung bình dài 30,44 ngày. Lịch sử dụng phổ biến trong dân gian là lịch can chi, dùng 10 can Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý và 12 chi Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, 60 năm thì tên gọi của một năm gồm can và chi lặp lại, chu kỳ đó gọi là 1 hội. Việt Nam và một số nước Đông Á, Đông Nam Á hiện vẫn đang dùng loại lịch sử dụng hệ đếm Can Chi ra đời cách đây khoảng năm này. Thiên văn Ấn độ[sửa] Công trình thiên văn học Jantar Mantar, thế kỷ 18, Ấn Độ. Trong bộ Kinh Vệ Đà ra đời cách đây trên năm, người Ấn Độ quan niệm rằng khởi thuỷ của vũ trụ là trạng thái hỗn độn, rồi nước được sinh ra đầu tiên, tiếp đến là lửa. Hơi nóng chứa đựng sức mạnh vô biên của lửa sinh ra "quả trứng trời đất", nửa trên là bầu trời, nửa dưới là mặt đất còn ở giữa là khoảng không phân cách. Bộ kinh này cũng cho rằng hoàng đạo là con đường của thần Surya thần Mặt Trời và người Ấn Độ cổ xưa chia hoàng đạo ra làm 28 chòm sao, đó là những "trạm nghỉ của Mặt Trăng" Mặt Trăng đi trọn một vòng hoàng đạo hết 27,3 ngày đêm. Toán học của Ấn Độ có những thành tựu rực rỡ và nhiều nhà toán học đồng thời cũng là nhà thiên văn học. Aryabhatta I 476-550 đã khẳng định rằng Trái Đất tự quay quanh trục của nó và chuyển động xung quanh Mặt Trời, đồng thời xác định độ dài của một năm dương lịch là 365 ngày 6 giờ 12 phút và 30 giây, một giá trị rất sát với tính toán hiện nay cũng như tính toán chu vi Trái Đất là dặm Anh số liệu hiện nay là dặm.Varahamihira 505 - 587, một nhà thiên văn Ấn Độ khác đã tổng kết nhiều thành tựu kiến thức của Hy Lạp và La Mã vào bộ sách Pancha-Siddhantika với năm luận thuyết của thiên văn 598 - 670 có những nghiên cứu về hiện tượng thiên thực, vị trí của các hành tinh trong tác phẩm Brahmasphutasiddhanta.
Trong đêm trường Trung Cổ dài đằng đẵng cả ngàn năm, thiên văn học giậm chân tại chỗ. Hồi giáo ra đời và bành trướng sau thế kỷ thứ bảy đã tạo tiền đề cho văn hóa Do Thái và Ả Rập nở rộ. Hai nền văn hóa này đã bảo tồn, dịch thuật, và bổ sung các ý tưởng thiên văn của người Hy Lạp. Nhiều ngôi sao sáng trên bầu trời ngày nay được đặt những cái tên Ả rập, và nhiều thuật ngữ thiên văn cũng có gốc Ả Rập, như zenith thiên đỉnh. Khi văn minh châu Âu bắt đầu trỗi dậy sau đêm dài tăm tối, việc buôn bán với các nước Ả Rập đã tạo điều kiện cho châu Âu tái khám phá các tài liệu cổ đại như Almagest, và đánh thức lại niềm say mê thiên văn. Thời phục hưng của thiên văn học được ghi dấu bởi công trình của Copernicus. Ý tưởng đột phát của Nicolaus Copernicus Một trong những sự kiện quan trọng nhất thời kỳ Phục Hưng đó là sự loại bỏ thuyết Địa tâm. Đây là một cuộc cách mạng tri thức do một thầy tu người Ba Lan khởi xướng vào thế kỷ thứ 16. Nicolaus Copernicus sinh tại Torun, một thị trấn khiêm tốn bên dong Vistula. Ông học luật và y, nhưng lại đam mê thiên văn và toán học. Đóng góp lớn nhất của ông cho khoa học đó là việc khởi sự đánh giá lại các lý thuyết đương thời về chuyển động của hành tinh, và phát triển thuyết Nhật tâm. Copernucus kết luận rằng Trái Đất là một hành tinh, và mọi hành tinh đều xoay quanh Mặt Trời. Chỉ có Mặt Trăng là xoay quanh Trái Đất. Copernicus giải thích chi tiết những suy nghĩ của ông trong cuốn De Revolutionibus Orbium Coelestium Bàn về Quỹ đạo của các thiên thể, xuất bản năm 1543, cũng là năm ông tạ thế. Lúc ấy, hệ thống Ptolemaic cần những điều chỉnh quan trọng để có thể dự đoán được vị trí chính xác của các hành tinh. Copernicus muốn phát triển một lý thuyết hoàn thiện hơn để tính toán vị trí các hành tinh, nhưng khi bắt tay vào công việc đó, ông đã bị các định kiến truyền thống níu chân. Ông bắt đầu với những giả thuyết phổ biến đương thời, chẳng hạn như ý tưởng cho rằng chuyển động của các thiên thể nhất định phải là những đường tròn. Nhưng ông không giả định như mọi người vẫn làm rằng Trái Đất phải nằm ở trung tâm vũ trụ, và ông bảo vệ thuyết nhật tâm, tin rằng nó thuyết phục hơn. Những ý tưởng của ông chỉ bắt đầu được chấp nhận sau hơn một thế kỷ kể từ ngày ông qua đời, nhưng chúng đã gây bão trong giới học giả, và cuối cùng đã tác động mạnh mẽ đến tiến trình của lịch sử. Tượng Copernicus đặt tại thành phố Krakow, Ba Lan Một trong những phản biện mạnh mẽ nhất đối với thuyết nhật tâm đó là nếu Trái Đất chuyển động thì tại sao con ngời lại không cảm thấy gì. Nếu Trái Đất chuyển động, thì các vật thể trên bề mặt của nó hiển nhiên sẽ phải bị hất văng đi, và nếu Trái Đất chuyển động thì thả quả bóng xuống nó sẽ không thể nào chạm đất Nhưng một người khi đang di chuyển không nhất thiết sẽ nhận ra sự chuyển động của mình. Chẳng hạn như khi ngồi trên tàu xe nhìn ra cửa sổ và bạn thấy những chiếc xe khác như đang di chuyển, nhưng thật ra chính bạn mới là người đang di chuyển. Copernicus cho rằng dù Trái Đất xoay quanh Mặt Trời, hay Mặt Trời xoay quanh Trái Đất, thì người quan sát trên mặt đất cũng vẫn trông thấy cùng một chuyển động biểu kiến của Mặt Trời. Ông lý luận rằng hành trình di chuyển của Mặt Trời trên bầu trời mà mắt người nhìn thấy hoàn toàn có thể giải thích nếu giả định rằng Trái Đất xoay tròn còn bầu trời đứng yên. Đối với phản biện nói rằng nếu Trái Đất xoay tròn thì mọi thứ trên bề mặt phải bị hất văng đi, Copernicus trả lời rằng nếu Trái Đất bị xé toạc khi chuyển động như vậy, thì cả thiên cầu, tức là cả bầu trời, to lớn hơn và chuyển động nhanh hơn như quan niệm theo thuyết địa tâm, cũng phải bị xé toạc như thế và còn mãnh liệt hơn. Tìm hiểu Thiên Văn HọcPhân biệt chiêm tinh học và thiên văn họcNhững thành tựu của thiên văn Hy Lạp cổ đại Thuyết nhật tâm Trọng tâm trong cuốn De Revolutionibus, Copernicus khẳng định rằng Trái Đất chỉ là một trong sáu hành tinh được biết tới lúc đó xoay quanh Mặt Trời. Với ý tưởng này, ông đã hình dung bức tranh chính xác của hệ mặt trời. Ông sắp xếp chính xác vị trí các hành tinh tính từ Mặt Trời, lần lượt là sao Thủy, sao Kim, Trái Đất, sao Hỏa, sao Mộc, và sao Thổ. Hơn nữa, ông kết luận chính xác rằng hành tinh nào càng gần Mặt Trời thì tốc độ xoay càng lớn. Bằng lý thuyết này ông có thể tính toán đúng quy mô của hệ Mặt Trời, và giải thích được chuyển động phức tạp của các hành tinh, mà không cần dùng đến hệ thống ngoại luân của Ptolemy. Copernicus chưa thể chứng minh được Trái Đất xoay quanh Mặt Trời. Trên thực tế thì thuyết Địa Tâm truyền thống của Ptolemy nếu điều chỉnh một chút thì vẫn có thể giải thích được chuyển động biểu kiến của các hành tinh trên bầu trời. Nhưng Copernicus chỉ ra rằng lý thuyết của Ptolemy quá rối rắm, và càng tính toán càng thêm rối răm, thiếu hẳn sự trật tự và hệ thống của lý thuyết mới. Vào thời Copernicus, rất ít người tin có thể chứng minh cả thuyết Địa Tâm lẫn thuyết Nhật Tâm. Truyền thống triết học có từ thời Hy Lạp cổ đại, được Giáo hội Kitô bảo vệ, khẳng định rằng tư duy thuần túy của con người kết hợp với mặc khải của Thượng Đế đại diện cho con đường của chân lý. Tự nhiên mà giác quan ta cảm nhận thì mông lung. Ví dụ, Aristole lý luận rằng vật nặng hơn sẽ rơi nhanh hơn. Kiểm chứng bằng một thí nghiệm đơn giản chỉ ra rằng khẳng định này hoàn toàn sai. Tuy nhiên, vào thời Copernicus, nhưng thí nghiệm như vậy lại không thuyết phục bằng những gì Aristotle đã nói. Mô hình thuyết Nhật Tâm của Copernicus với Mặt Trời nằm ở trung tâm, và thứ tự các hành tinh. Mô hình này nằm trong tác phẩm De Revolutionibus Orbium Coelestium của ông Trong bầu khí như thế thì người ta không mấy sốt sắng thực hiện những quan sát hoặc thí nghiệm để phân biệt hay kiểm chứng các lý thuyết về vũ trụ hay bất kỳ lý thuyết nào khác. Vậy nên, ý tưởng thuyết Nhật Tâm gây tranh cãi hơn một nửa thế kỷ mà không có ai kiểm chứng tính xác thực của nó cũng là điều bình thường, người ta cãi miệng thôi. Và có một thực tế là thuyết Địa Tâm vẫn còn được dạy tại Đại học Harvard vào những năm 1636. Ngày nay các nhà khoa học luôn khẩn trương kiểm tra các lý thuyết mới, và chỉ khi nào có bằng chứng thực nghiệm thì họ mới chấp nhận. Chẳng hạn, năm 1989 khi hai nhà nghiên cứu tại đại học Utah tuyên bố đã tìm ra cách nấu chảy nguyên tử quá trình tạo năng lượng cho cá vì sao ở nhiệt độ phòng, trong vòng vài tuần giới khoa học ở hơn 25 phòng thí nghiệm khắp nước Mỹ cố gắng nhân bản “phản ứng nguyên tử ở nhiệt độ phòng” nhưng không có kết quả trên thực tế. Lý thuyết nguyên tử lạnh này nhanh chóng bị bác bỏ. Ngày nay chúng ta nhìn nhận mô hình của Copernicus như thế nào? Khi một lý thuyết hoặc giả thuyết mới ra đời, trước tiên nó phải được kiểm nghiệm xem có khớp với những gì đã biết haye không. Ý tưởng nhật tâm của Copernicus đã vượt qua kiểm tra này, vì dựa trên ý tưởng này ta có thể tính toán được vị trí các hành tinh, ít nhất là như trong thuyết địa tâm. Bước tiếp theo là xác định xem các tiên đoán mà lý thuyết mới đưa ra có khác với những ý tưởng cạnh tranh khác không. Trong trường hợp của Copernicus thì ta có thể lấy một ví dụ về sự tiên đoán của nó. Đó là, nếu sao Kim xoay quanh Mặt Trời thì hành tinh này cũng sẽ trải qua đầy đủ các kỳ như Mặt Trăng xoay quanh Trái Đất, tức là có lúc tròn, lúc khuyết, và lúc tối. Nhưng trên thực tế thì không. Nhưng, chúng ta không thể nhìn thấy sao Kim vào ngày “trăng tròn” của nó vì nếu thế thì Mặt Trời phải nằm giữa Trái Đất với Sao Kim thì mới được. Nhưng vào thời Copernicus thì không ai tưởng tượng ra những dự đoán kiểu vậy. Các kỳ tròn khuyết của sao Kim Galileo và khởi đầu của thiên văn học hiện đại Nhiều ý tưởng khoa học hiện đại về quan sát, thí nghiệm, và kiểm tra lý thuyết thông qua các phương pháp định lượng cẩn thận bắt đầu từ một con người sống ngay sau Copernicus, đó là Galileo Galilei, sống cùng thời với Shakespeare, sinh tại Pisa. Cũng như Copernicus, ban đầu ông học y nhưng không hứng thú, về sau chuyển qua toán học. Học từng giữ các vị trái trưởng khoa tại Đại học Pisa và Đại học Padua, và cuối cùng trở thành toán học gia cho Bá tước Tuscany tại Florence. Đóng góp lớn nhất của Galileo là trong lĩnh vực cơ học, nghiên cứu chuyển động và hành động của các lực trên thực thể. Tức là, nếu vật nào đứng yên thì nó sẽ đứng yên mãi mãi, và chỉ chuyển động khi có lực tác động. Đứng yên được coi như trạng thái tự nhiên của vật. Tuy nhiên, Galile cho thấy rằng đứng yên hay chuyển động không phải là sự tự nhiên. Chân dung Galileo. Cùng với phát minh kính viễn vọng và những quan sát thiên văn của mình, ông đã mở đầu cho cuộc cách mạng của thiên văn học hiện đại Nếu một vật thể trượt trên một mặt phẳng lỗi lõm thì nó sớm muộn cũng sẽ đứng yên vì lực ma sát giữa nó và mặt phẳng. Tuy nhiên, nếu mặt phẳng và vật thể đều được mài bóng và trơn thì với một vận tốc ban đầu tương tự vật thể sẽ trượt được xa hơn. Trên một mặt phẳng như tảng băng thì nó còn trượt xa hơn nữa. Galileo lý luận rằng nếu mọi tác động ngăn cản bị loại bỏ thì vật thể sẽ chuyển động mãi mãi. Ông cho rằng cần phải có một lực không chỉ để cho một vật bắt đầu chuyển động, mà còn để giản, ngăn cản, tăng, hoặc thay đổi hướng của một vật thể chuyển động. Galileo cũng nghiên cứu cách mà mọi vật gia tốc, tức thay đổi tốc độ và hướng chuyển động. Galileo quan sát các vật thể rơi tự do và lăn đi trên một con dốc. Ông nhận thấy chúng gia tốc như nhau. Tức là, trong cùng một khoảng thời gian thì tốc độ của các vật thể tăng lên giống nhau. Galileo lập công thức toán học chính xác cho những định luật mới phát hiện này giúp cho các thí nghiệm trong tương lai có thể dự đoán được các vật thể sẽ đi được bao xa và nhanh thế nào khi di chuyển qua các khoảng thời gian khác nhau. Khoảng năm 1590, Galileo áp dụng lý thuyết hệ mặt trời của Copernicus. Lý thuyết này khi ấy vẫn chưa được nước Ý Công giáo chấp nhận, và quyền lực Giáo hội vẫn ủng hộ các ý tưởng của Aristole và Ptolemy. Họ có những lý do mạnh mẽ về kinh tế và chính trị để theo đuổi lý thuyết cho rằng Trái Đất là trung tâm của công trình tạo dựng. Galileo không chỉ thách thức lý thuyết đó, mà còn cả gan viết các công trình của mình bằng tiếng Ý thay vì tiếng La Tinh như trong giới học thuật vẫn làm, nhằm loan truyền rộng rãi trong quần chúng. Đối với ông, tôn giáo và đạo đức mà Giáo hội bảo vệ không xung đột với những vấn đề khoa học tự nhiên. Chính vì những quan điểm “nguy hiểm” ấy mà năm 1616 Giáo hội đã ra một sắc chỉ tuyên bộ lý thuyết của Copernicus là “sai lầm và vô lý”, không được phép bảo vệ hay duy trì. Các quan sát thiên văn của Galileo qua kính viễn vọng Ta không chắc ai là người đầu tiên nghĩ ra cách kết hợp các thấu kích với nhau để tạo thành cái ống nhòm giúp quan sát những vật thể ở xa. Nhưng chiếc ống nhòm đầu tiên gây nhiều sự chú ý được sản xuất năm 1608 bởi Hans Lippershey 1570-1619, một người Hà Lan. Galileo nghe biết về phát minh này, tuy chưa từng nhìn thấy thành phẩm nhưng ông cũng tự mình làm được một cái ống nhòm có khả năng phóng đại gấp 3 lần, thấy được những vật ở xa rõ hơn và lớn hơn. Ngày 25/08/1609, Galileo thử nghiệm một chiếc ống viễn vọng có độ phóng đại x9 trước các quan chức của thành Venice. Đây quả thực là một lợi thế lớn về mặt quân sự khi có thể quan sát đối thủ từ xa. Với phát minh này, tiền lương của Galileo lập tức tăng gấp đôi, và được phong hàm giáo sư trọn đời. Kính thiên văn của Galileo làm bằng gỗ, bọc giấy, thấu kính 26mm Người ta dùng ống nhòm của Galileo để quan sát những gì trên mặt đất, nhưng một tia sáng chợt lóe lên trong đầu nhà khoa học này, làm thay đổi triệt để lịch sử thiên văn. Ông hướng ống kính viễn vọng lên các vì sao. Ông tiếp tục nghiên cứu, chế tạo ra một cái chân đứng, và nâng cấp khả năng phóng đại của ống kính lên x30. Và ông cũng cần thêm một chút tự tin về sản phẩm của mình. Vào thời ấy, mắt người được cho là phản chiếu hình ảnh, màu sắc, kích thước chân thực nhất của vạn vật. Ống kính, gương, hay lăng kính bị cho là làm méo mó hình ảnh sự vật khi phóng lớn, thu nhỏ, hay đảo ngược chúng. Galileo thí nghiệm nhiều lần để tự thuyết phục mình rằng những gì nhìn thấy qua ống viễn vọng là thực, và chính là những gì sẽ nhìn thấy khi tới gần. Chỉ khi đó ông mới bắt đầu sử dụng kính viễn vọng để nhìn lên bầu trời. Quan sát các hành tinh, Galileo phát hiện ra bốn mặt trăng xoay quanh sao Mộc trong khoảng thời gian thay đổi từ 2 đến 17 ngày. Khám phá này đặc biệt quan trọng vì nó cho thấy rằng không phải mọi thứ đều xoay quanh Trái Đất. Hơn thế nữa, nó chứng minh rằng có những thứ vừa là trung tâm của chuyển động, vừa chính nó chuyển động. Những người bảo vệ thuyết địa tâm nói rằng nếu Trái Đất chuyển động, thì Mặt Trăng phải bị bỏ lại phía sau, vì nó khó mà theo kịp tốc độ chuyển động của một hành tinh. Nhưng, bằng chứng sao Mộc đã cho thấy rõ điều đó hoàn toàn có thể xảy ra. Với ống viễn vọng, Galileo có thể kiểm chứng lý thuyết của Copernicus, dựa trên các kỳ chuyển động của sao Kim. Trong vòng một vài tháng, ông khám phá ra rằng sao Kim cũng có các kỳ tròn khuyết như Mặt Trăng, chứng minh rằng nó nhất định phải xoay quanh Mặt Trời, nên chúng ta mới thấy bề mặt được chiếu sáng của nó thay đổi theo thời gian. Các quan sát này đã đánh đổ mô hình của Ptolemy, vốn cho rằng sao Kim xoay quanh Trái Đất. Trong mô hình của Ptolemy, sao Kim cũng có các kỳ tròn khuyết, nhưng chúng sai so với những gì mà Galileo quan sát được trên thực tế. Galileo cũng quan sát Mặt Trăng và thấy các miệng núi lửa, các dãy núi, thung lũng, các vùng tối, phẳng mà ông nghĩ có thể là nước. Những khám phá này chứng minh rằng Mặt Trăng có thể không khác biệt gì lắm với Trái Đất, và Trái Đất có thể cũng chỉ là một thiên thể như bao thiên thể khác. Sau công trình của Galileo, lý thuyết của Copernicus càng khó đánh đổ, và Trái Đất dần dần bị truất ngôi vị trí trung tâm của vũ trụ, và trở về đúng vị trí của nó là một trong các hành tinh trong hệ Mặt Trời. Tuy nhiên, rốt cuộc thì Galileo gặp phải sự phản đối dữ dội. Giáo hội Công giáo, vẫn còn đang chao đảo bởi phong trào Kháng Cách, tìm cách khẳng định quyền lực của mình, và chọn Galileo xử làm gương. Ông phải ra trước Tòa án Dị giáo để trả lời các cáo buộc về công trình của mình, cuối cùng ông bị kết án cầm cố tại gia. Sách vở của ông bị cấm cho tới năm 1836, tuy trong những nước ít chịu ảnh hưởng của Công giáo thì người ta vẫn đọc và thảo luận rộng rãi. Cho đến 1992 thì giáo hội Công giáo mới công khai chấp nhận họ đã sai trong việc ngăn cấm những ý tưởng của Galileo. Các ý tưởng mới của Copernicus và Galileo đã khởi đầu cuộc cách mạng nhận thức của chúng ta về vũ trụ. Cuối cùng ta đã biết chắc chắn rằng vũ trị là một vùng không gian rộng lớn, và vai trò của Trái Đất không quan trọng như ta tưởng. Trái Đất xoay quanh Mặt Trời như bao hành tinh khác, và khám phá này dẫn tới một kết luận hiển nhiên rằng các hành tinh khác cũng là một thế giới như chúng ta, có khi còn có sự sống. Vũ trụ, bất kể chúng ta có mong muốn thế nào, không xoay quanh chúng ta như trước giờ vẫn tưởng. Nối tiếp Galileo và Copernicus là Brahe với kho dữ liệu quan sát thiên văn khổng lồ, và Kepler, dựa trên kho dữ liệu ấy, đã khám phá ra ba định luật Kepler nổi tiếng mô tả chuyển động của các hành tinh. Và tất cả hoàn thiện nơi Newton. Mời các bạn tiếp tục đọc các bài viết tiếp theo để theo dõi quá trình phát triển của thiên văn học hiện đại.
Ngày đăng 07/07/2014, 0218 Cùng với sự ra đời của nền văn minh phương đông, những thành tựu về KHTN của phương đông cũng xuất hiện từ rất sớmCác thàh tựu KHTN của phương đông cổ đại ra đời dựa trên sự đòi hỏi bức thiết của cuộc sống lao động và sản xuất, dựa trên các hình thức tôn giáoHoạt động kinh tế là sản xuất nông nghiệpPhát sinh nhiều loại bệnh tật khác nhau ở các quốc gia nên y học phát triển KHOA HỌC TỰ NHIÊN CỦA PHƯƠNG ĐÔNG kiện thuận lợi ra đời 1 nền văn minh sớm - Điều kiện tự nhiên - Điều kiện kinh tế, xã hội dân cư - Yếu tố con người 2. Đặc điểm Cùng với sự ra đời của nền văn minh phương đông, những thành tựu về KHTN của phương đông cũng xuất hiện từ rất sớm 2. Đ c đi mặ ể Các thàh tựu KHTN của phương đông cổ đại ra đời dựa trên sự đòi hỏi bức thiết của cuộc sống lao động và sản xuất, dựa trên các hình thức tôn giáo - Hoạt động kinh tế là sản xuất nông nghiệp - Phát sinh nhiều loại bệnh tật khác nhau ở các quốc gia nên y học phát triển 3. THÀNH TỰU KHOA HỌC Sự xuất hiện của lịch - Dựa tên cơ sở quan sát thiên văn, phương đông đã sớm tìm ra lịch + Ai cập Dựa vào sự xuất hiện của sao Lang, 2 lần xuất hiện là được 1 năm, tương đương với 365 ngày, chia thành 3 mùa mỗi mùa 4 tháng mùa Nước dâng, mùa Ngũ cốc, mùa Thu hoạch + Lưỡng hà tính theo chu kì quay của mặt trăng, có 354 ngày, chia thành 12 tháng, 6 tháng đủ 6 tháng thiếu + Ấn độ cũng dựa vào mặt trăng, chia 1 năm thành 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày, mỗi ngày có 30 giờ, 5 năm thì thêm 1 tháng nhuận + Trung quốc qua nhiều triều đại thì lịch cũng được thay đổi nhưng lịch ở đây xuất hiện từ rất sớm, đến thời Thương, họ đã biết kết hợp vòng quay của mặt trăng quay quanh trái đất và trái đất quay quanh mặt trời để làm ra lịch gọi là lịch Âm Dương => Người phương Đông đã sớm tìm ra lịch và gần giống với ngày nay. Một năm chia thành 365 ngày, có tháng đủ, tháng thiếu,có năm nhuận Sáng chế Thành tựu về thiên văn và lịch đã thúc đẩy sự ra đời của đồng hồ đo thời gian - Ban đầu là đồng hồ bằng bóng mặt trời nhật khuê của Ai Cập hoặc khuê và nhật quỹ của Trung Quốc nhưng chỉ sử dụng vào ban ngày hoặc những khi trời có nắng - Sau đó là sự ra đời của đồng hồ nước ở Ai Cập là tk XV TCN, ở Trung Quốc vào tk XII TCN Sáng chế ĐỒNG HỒ NƯỚC Một cái bình làm bằng đá hình chóp nhọn, chỗ nhọn là đáy và có một lỗ nhỏ trong bình đổ đầy nước nước theo lỗ nhỏ mà chảy ra làm mực nước vơi dần. Nhìn mực nước để biết thời gian Thiên văn học Thiên văn học Quan sát thiên văn và họ có những hiểu Quan sát thiên văn và họ có những hiểu biết nhất định biết nhất định + Ai cập phát hiện ra 12 cung hoàng đạo, + Ai cập phát hiện ra 12 cung hoàng đạo, biết được các hành tinh kim – mộc – thủy biết được các hành tinh kim – mộc – thủy – hỏa – thổ, có một số kiến thức về hiện – hỏa – thổ, có một số kiến thức về hiện tượng Nhật thực, Nguyệt thực, sao Chổi, tượng Nhật thực, Nguyệt thực, sao Chổi, sao Băng… sao Băng… + Lưỡng Hà phát hiện ra 7 hành tinh trong + Lưỡng Hà phát hiện ra 7 hành tinh trong vũ trụ là mặt trời, mặt trăng và 5 hành vũ trụ là mặt trời, mặt trăng và 5 hành tinh kim, mộc, thủy, hỏa, thổ tinh kim, mộc, thủy, hỏa, thổ + Trung Quốc có những hiểu biết về Nhật + Trung Quốc có những hiểu biết về Nhật thực, Nguyệt thực đã được ghi chép lại thực, Nguyệt thực đã được ghi chép lại trong sách “Xuân Thu” trong sách “Xuân Thu” Nhà thiên văn TRƯƠNG HÀNH 78 – 139 - Ánh sáng của mặt trăng là nhận của mặt trời - Giải thích hiện tượng Nguyệt thực - Vũ trụ là vô hạn - Chế tạo ra dụng cụ đo động đất, “địa động nghi” [...]... kì diệu đối với y học thế giới 4 LIÊN HỆ Những thành tựu của KHTN phương Đông cổ đại đã có ảnh hưởng sâu sắc tới các thành tựu KHTN phương Tây thời cổ đại, và đồng thời một số hiểu biết còn được ứng dụng rộng rãi trong thời đại ngày nay - Định lý trong tam giác vuông phát triển thành định lý talet - Cách phẫu thuật, ủ men, thuốc nhuộm, nguyên lý đòn bẩy, nam châm… - Lịch phương Đông là cơ sở cho lịch... của cư dân phương Đông cổ đại trong lĩnh vực khoa học tự nhiên + Do tục ướp xác, chế tạo dược phẩm và đồ dùng kim loại, ngành hoá học ở Ai Cập đã xuất hiện Người Ấn Độ đã tìm ra chất xút tốt để thuộc da thú vừa bền, vừa đẹp Ngay từ sớm họ đã biết dùng xà phòng, thuỷ tinh, ủ men và chưng cất rượu… + Trong lĩnh vực hoá học, cư dân phương Đông cổ đại còn biết đến một số tri thức hoá học mà đã xuất hiện... học đã chia thành Nội khoa, Ngoại khoa, khoa Mắt,… Từ thế kỉ VI – V TCN, người Ấn Độ đã biết chắp xương sọ, cắt màng mắt, mổ bụng lấy thai nhi, lấy sỏi thận + Các tác phẩm “y học toát yêu”, “luận khảo về trị liệu” là những tác phẩm có giá trị lớn về y học + Phương đông cũng là nơi sinh ra của nhiều thầy thuốc nổi tiếngBiển Thước,Hoa Đà,Lý Thời TrânTrung Quốc.Đặc biệt là kĩ thuật ướp xác của người... lực của nó, hút tất cả mọi vật về phía nó” + Từ thế kỉ III TCN, người Trung Quốc đã biết đến từ tính và tính chỉ hướng của nam châm Trên cơ sở đó, họ chế tạo ra vật dụng chỉ hướng đầu tiên gọi là “Tư Nam” để phục vụ cho việc đi biển KIM TỰ THÁP làm ra bởi sự hiểu biết về toán học và vật lý điều bí ẩn cho khoa học ngày nay HÓA HỌC Hoá học cũng là những sự hiểu biết cơ bản đầu tiên của cư dân phương. .. thành vàng… Y HỌC + Mặc dù bị tư tưởng tôn giáo chi phối, nhưng y học phương Đông đã phát triển theo một hướng tiến bộ, khoa học, chữa được nhiều căn bệnh nguy hiểm Người Ai Cập đã biết rõ về cấu tạo cơ thể, biết được tầm quan trọng của tim - mạch, biết chữa đau răng, dạ dày, mắt, các bệnh phụ nữ… Cư dân Lưỡng Hà Cư dân Lưỡng Hà biết chữa bệnh về tiêu hoá, hô hấp, mắt, tai, thần kinh; ngành y học. .. TOÁN HỌC + Về số học Cư dân phương Đông đã có nhiều hiểu biết sâu sắc, nhiều phát minh quan trọng Người Ai Cập biết đặt ra hệ đếm cơ số 10 thập tiến vị, biết làm phép tính cộng trừ Còn nhân và chia thì họ lại cộng hoặc trừ nhiều lần, họ còn biết đặt ra ẩn số “x” và giải phương trình dạng “ax + by + cz = d” Người Lưỡng Hà phát minh ra hệ đếm sơ số 60 Họ còn biết cộng... Một phát minh tưởng chừng như đơn giản của cư dân Ấn Độ mà lại vô cùng có ý nghĩa, đó là chữ số “0”, góp phần hoàn thiện hệ thống chữ số “0 – 9” + Về hình học tìm ra số mỗi nước khác nhau nhưng gần giống với số pi ngày nay VẬT LÝ + Ở Ai Cập, những tri thức về vật lý đã bắt đầu hình thành, người Ai Cập cổ đại đã biết tới rất nhiều về “lực học Theo nhiều tài liệu đã chứng minh rằng... là cơ sở cho lịch hiện đại - Thiên văn học đang được ứng dụng rộng rãi 5 HẠN CHẾ - - Còn tồn tại nhiều tư tưởng sai lầm như ma quỷ gây bệnh, trái đất nổi trên mặt nước… Tư tưởng tôn giáo còn chi phối KHTN Điều kiện tự nhiên, xã hội còn nhiều hạn chế như kinh tế nghèo nàn, tư tưởng lạc hậu, bảo thủ, nhận thức của thời đại còn hạn chế Cảm ơn cô và các bạn Đã theo dõi bài làm ... nhiều về “lực học Theo nhiều tài liệu đã chứng minh rằng trong việc xây dựng Kim Tự Tháp, cư dân Ai Cập đã sử dụng rất nhiều ròng rọc, đòn bẩy, con lăn để kéo đá lên Họ còn biết đắp đất cho đá trượt lên mặt phẳng nghiêng, biết kéo những khối đá nặng hàng tấn trong nước để nó trở nên nhẹ hơn + Các nhà khoa học kiêm triết học Ấn Độ đã nêu ra “thuyết nguyên tử”, dựa vào cấu tạo nguyên tử hoặc sự sắp xếp . biết chữa bệnh về tiêu hoá, hô hấp, mắt, tai, thần kinh; ngành y học đã chia thành Nội khoa, Ngoại khoa, khoa Mắt,… Từ thế kỉ VI – V TCN, người Ấn Độ đã biết chắp xương sọ, cắt màng mắt, mổ. trình dạng “ax + by + cz = d” . Người Lưỡng Hà phát minh ra hệ đếm sơ số 60. Họ còn biết cộng - trừ - nhân – chia đến 1 triệu . Một phát minh tưởng chừng như đơn giản của cư dân Ấn Độ mà lại. học và vật lý điều bí ẩn cho khoa học ngày nay HÓA HỌC Hoá học cũng là những sự hiểu biết cơ bản đầu tiên của cư dân phương Đông cổ đại trong lĩnh vực khoa học tự nhiên. + Do tục ướp - Xem thêm -Xem thêm Bài giảng thành tựu khoa học tự nhiên của văn minh phương đông, Bài giảng thành tựu khoa học tự nhiên của văn minh phương đông, , Điều kiện thuận lợi ra đời 1 nền văn minh sớm, THÀNH TỰU KHOA HỌC
6. William Herschel William Herschel là nhà thiên văn học người Anh gốc Đức, chuyên gia về kỹ thuật kiêm nhà soạn nhạc. Herschel nổi tiếng nhờ phát hiện ra sao Thiên Vương cùng hai vệ tinh lớn của nó Titania và Oberon. Thêm nữa, ông còn phát hiện ra hai vệ tinh của sao Thổ và bức xạ hồng ngoại. Ngoài sở thích thiên văn học, Herschel có đam mê mãnh liệt với âm nhạc; ông sáng tác khoảng 24 bản giao hưởng nhưng ít được biết đến. Ngày 13/3/1781, trên kính viễn vọng nhỏ của mình, W. Herschel phát hiện một thiên thể lạ. Ban đầu, ông nghĩ nó là sao chổi nhưng sau khi tính toán và xem xét kĩ, ông xác định đó là một hành tinh mới - Thiên Vương tinh. Kể từ đó, hành tinh ngoài cùng hệ Mặt Trời không còn là sao Hỏa nữa mà thay vào đó là sao Thiên Vương. Nhờ khám phá này, ông được bầu làm thành viên của Hội Hoàng Gia Anh và được nhận giải thưởng hàng năm từ Hoàng gia. Hơn thế nữa, ông còn được vua George III phong hiệu là “Nhà Thiên văn của Triều đình”. 7. Johannes Kepler Nhà thiên văn học người Đức Johannes Kepler 27/12/1571 – 15/11/1630 là người đầu tiên có thể giải thích một cách đầy đủ về sự chuyển động của các hành tinh trong Hệ Mặt Trời. Ông miêu tả sự chuyển động này bằng ba quy luật mà sau này chúng đã được xuất bản vào năm 1609. Để mở khóa bí ẩn về vũ trụ, ông tưởng tượng mọi hành tinh đều quay quanh một quỹ đạo hình ê-líp thay vì hình tròn như quan niệm của các nhà thiên văn học cùng thời khác. Và đây cũng là quy luật đầu tiên ông dùng để miêu tả sự chuyển động của các hành tinh. Giống như Copernicus, Kepler cũng tin vào thuyết Nhật tâm. Ông đã vấp phải rất nhiều sự phản đối từ phía Hội đồng Nhà thờ khi họ cho rằng Trái Đất mới là trung tâm của vũ trụ. Tuy vậy, những trở ngại này lại chỉ khiến Kepler thêm mạnh mẽ, tiếp thêm cảm hứng cho những nghiên cứu sau này của ông. Điều thú vị nằm ở chỗ Kepler vốn là một con chiên rất ngoan đạo. Thậm chí, ông từng lên kế hoạch trở thành giáo sĩ trước khi dấn thân vào con đường khoa học. Kepler từng làm việc khá thân thiết với Tycho Brahe nhưng mối quan hệ giữa cả hai tương đối gượng gạo. Có tài liệu ghi lại cho rằng Brahe sợ người trợ lý của mình sẽ làm lộ các nghiên cứu của ông. Điều này xảy ra sau khi Kepler phát hiện quy luật chuyển động của các hành tinh. Sau này, Kepler còn đóng góp nhiều khám phá rất quan trọng như sự ảnh hưởng của Mặt Trăng với thủy triều hay thiết lập một vài phép tính tích phân. 8. Edwin Powell Hubble Edwin Powell Hubble 20/11/1889 – 28/9/1953 là một nhà vật lý, nhà thiên văn học quốc tịch Mỹ. Ông là người rất thành công trong lĩnh vực nghiên cứu về thiên văn, vũ trụ khi khám phá ra các ngân hà khác bên ngoài ngân hà Milky Way mà chúng ta từng biết. Mặc dù thành quả này là tập hợp những sự đóng góp của nhiều nhà khoa học khác nhau nhưng Hubble đóng vai trò chính trong việc quan sát qua kính viễn vọng Hooker. Tiếng tăm của ông nổi lên nhờ phát hiện Vũ trụ là vô tận và Thiên hà chúng ta đang sống chỉ là một phần không đáng kể. Bên cạnh đó, tên của Hubble còn được đặt cho một định luật do chính ông phát hiện ra. Ngày nay, chúng ta gọi là Định luật Hubble các ngôi sao càng xa trung tâm vũ trụ thì di chuyển xa ra khỏi trung tâm với tốc độ càng nhanh. Hubble sau đó cũng được dùng để đặt tên cho Đài thiên văn vũ trụ Hubble - một trong những đài thiên văn lớn nhất thế giới hiện nay. Trong những năm tháng cuối đời, ông dành nhiều thời gian tranh luận cho việc xem xét, nhìn nhận lĩnh vực thiên văn học là một ngành của Vật lý. Sau nhiều năm tranh luận, Ủy ban trao Giải Nobel cho rằng nhận định của ông là đúng. Tuy nhiên, quyết định này là quá muộn khi ông đã qua đời vào năm 1953 mà không nhận được giải thưởng khoa học uy tín này. 9. Hipparchus Hipparchus là một nhà thiên văn học Hy Lạp cổ đại nổi tiếng những năm 140 - 125 trước Công nguyên, thuộc thế hệ các nhà thiên văn đầu tiên của thế giới. Được biết đến là nhà thiên văn học vĩ đại nhất của thời cổ đại, có thể xem Hipparchus như cha đẻ sáng lập ra ngành thiên văn. Đóng góp quan trọng nhất của ông đối với lĩnh vực này là tập hợp được một danh mục toàn diện nhất về hàng trăm ngôi sao mà ông quan sát được. Danh mục này sau đó đã được sử dụng rộng rãi bởi Ptolemy trong các quan sát thiên văn của mình. Một công trình khác không thể không nhắc tới của Hipparchus là nghiên cứu về sự di chuyển chậm của các vì sao và chòm sao tương ứng với đường xích đạo trên bầu trời. Ông còn vận dụng lượng giác - một đề tài mà ông cho là tiền đề cơ bản để đo chính xác khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trăng trong thời điểm nhật thực. Ngoài ra, Hipparchus còn nổi tiếng với việc phát minh ra các phương pháp đo độ sáng của một ngôi sao mà vẫn còn được sử dụng đến ngày nay. 10. Galileo Galilei Galileo Galilei 15/2/1564 – 8/1/1642 là nhà thiên văn học, vật lý học, toán học và triết học người Ý, đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng khoa học. Các thành tựu của ông gồm những cải tiến cho kính thiên văn và cách quan sát thiên văn sau đó, ủng hộ Chủ nghĩa Copernicus. Những đóng góp của ông trong lĩnh vực thiên văn học quan sát bao gồm việc xác nhận các tuần của sao Kim bằng kính thiên văn, phát hiện bốn vệ tinh lớn nhất của sao Mộc sau này được đặt tên là các vệ tinh Galileo để vinh danh ông và quan sát, phân tích vết đen Mặt Trời. Galileo cũng tham gia công việc nghiên cứu khoa học - công nghệ ứng dụng, cải tiến thiết kế la bàn. Không chỉ là người đầu tiên thông báo về các ngọn núi và hố va chạm trên Mặt Trăng, ông còn ước tính được chiều cao của các ngọn núi từ các quan sát đó. Điều này dẫn ông đi tới kết luận rằng Mặt Trăng "xù xì và không bằng phẳng, giống như chính bề mặt của Trái Đất", chứ không phải là một mặt cầu hoàn hảo như Aristotle đã tuyên bố trước đó. Việc Galileo bênh vực cho Chủ nghĩa Copernicus đã gây ra sự tranh cãi lớn nhất trong đời ông khi đi ngược lại quan điểm Địa tâm Trái Đất là trung tâm của vũ trụ. Sau khi Galileo trình bày thuyết Nhật tâm, giáo hội Công giáo Rôma ngay lập tức ban lệnh cấm tuyên truyền nó vì trái ngược với ý nghĩa của Kinh Thánh. Galileo cuối cùng buộc phải từ bỏ thuyết Nhật tâm của mình và sống những ngày “giam lỏng” tại gia đến cuối đời theo lệnh của Toà án dị giáo La Mã.
Thứ sáu, 09/06/2023 1543 GMT+7 ĐCSVN - Quán triệt và thực hiện Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những năm qua, tỉnh Thanh Hóa đã và đang đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Các phong trào thi đua đã giành được nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, góp phần thúc đẩy sự phát triển của địa phương. Sáng 9/6, tỉnh Thanh Hóa tổ chức Lễ kỷ niệm 75 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc 11/6/1948 – 11/6/2023; sơ kết 3 năm thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XIII và biểu dương các điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tại lễ kỷ niệm, các đại biểu đã cùng nhau ôn lại quá trình thực hiện Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh 75 năm qua, đồng thời khẳng định Đến nay, Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên ý nghĩa lịch sử, giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, đưa phong trào thi đua của cả nước có bước phát triển mới cả về bề rộng và chiều sâu, có nhiều đổi mới không chỉ về nội dung, mà cả về hình thức. Các phong trào thi đua tập trung vào giải quyết những nhiệm vụ khó khăn của cả nước và của từng ngành, từng địa phương, đơn vị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền quốc gia, tích cực chủ động hội nhập quốc tế. Quán triệt và thực hiện Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những năm qua, tỉnh Thanh Hóa đã và đang đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tiêu biểu là các phong trào thi đua trọng tâm “Chung sức xây dựng nông thôn mới"; “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở”; “Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”; “Xây dựng Thanh Hóa trở thành tỉnh kiểu mẫu”; Phong trào thi đua đặc biệt “Cả nước đoàn kết, chung sức, đồng lòng thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch COVID-19”... Các phong trào thi đua đã giành được nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Tại lễ kỷ niệm, tỉnh Thanh Hóa đã tặng Bằng khen cho 58 tập thể, 75 cá nhân điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, giai đoạn 2021 - 2023. Nhân dịp này, tỉnh Thanh Hóa cũng trao chứng nhận cho 17 tác giả, nhóm tác giả đoạt giải trong hoạt động sáng tác, quảng bá các tác phẩm văn học - nghệ thuật, báo chí về chủ đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; trao chứng nhận cho 7 tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động quảng bá về chủ đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"./.Phạm Như Quỳnh
thành tựu của thiên văn học